(GMT+7)

Công nghệ tạo "sao" của các cuộc thi hát

Văn hóa - Thể thao06/01/2011

Quảng cáo tài trợ: Nhà đất Hà Nội, Cho thuê văn phòng, Cần bán chung cư

Để lý giải được vì sao những cuộc thi như Vietnam Idol có thể khiến hàng ngàn bạn trẻ gần như phát cuồng, sẵn sàng nhẫn nại chờ xếp hàng để được thử giọng, có lẽ cần tìm về nơi ra đời của các cuộc thi tìm kiếm tài năng âm nhạc trên truyền hình là nước Mỹ.

Theo hai tác giả Anastasia Brown và Brian Mansfield trong cuốn Make Me a Star: Industry Insiders Reveal How to Make It in Music (tạm dịch: Hãy biến tôi thành sao: tiết lộ cách thức của những người trong cuộc), những cuộc thi tìm kiếm tài năng âm nhạc trên truyền hình cũng lâu đời như chính ngành truyền hình.

Năm 1948, nhà sản xuất độc lập Arthur Godfrey đã mang cuộc thi hát Arthur Godfrey’s Talent Scouts do ông tổ chức từ sóng phát thanh lên sóng truyền hình.

Minh Chuyên và Uyên Linh vừa chiến thắng 2 cuộc thi Vietnam Idol và Sao Mai điểm hẹn 2010

Thử thách… tài nhận xét của giám khảo

Ở thời điểm hiện tại, American Idol đang lớn mạnh để trở thành chương trình tìm kiếm tài năng lớn nhất và thành công nhất của truyền hình Mỹ, được xuất khẩu sang nhiều nước (trong đó có Việt Nam), gần như kết hợp được tất cả chìa khoá thành công của những chương trình đi trước. Nó mang những người vô danh ra trước công chúng để họ lựa chọn người chiến thắng. Amateur Hour chỉ tuyển những người ca hát không chuyên và khán giả bình chọn cho thí sinh mà họ yêu thích thông qua bưu thiếp. American Idol biết cách giảm nhẹ tính căng thẳng của thi thố bằng cách kết hợp các trò hài hước.

Nhìn chung, kịch bản của “Idol” luôn qua hai giai đoạn. Theo đó, hàng loạt những câu chuyện cười ra nước mắt sẽ xuất hiện trong các buổi thử giọng. Giai đoạn này thường bỗng dưng “phát lộ” các xìcăngđan thuộc dạng “chẳng chết ai” nhưng lại giúp cuộc thi tạo được ồn ào trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Sau đó, cuộc thi mới thực sự bắt đầu bằng vòng chung kết. Và cũng giống Star Search (1983 – 1995), những người hát tốt nhất phải trình diễn hết tuần lễ này sang tuần lễ khác. Khán giả có nhiều thời gian hơn để xác định ca sĩ nào được họ yêu thích nhất. Còn thí sinh sẽ phải làm hết khả năng để gầy dựng và nuôi dưỡng tình cảm mà khán giả dành cho họ bằng những màn trình diễn tốt nhất. Giống như một cuộc đua, cuộc thi hấp dẫn nhờ luật chơi thí sinh loại bỏ lẫn nhau để trở thành nhà vô địch và người chơi phải học cách chấp nhận sự khắc nghiệt này. Có thể nói cuộc thi được cho là “made in Vietnam” Sao Mai Điểm hẹn đã học hỏi khá tốt đặc điểm này. Trong mùa thứ tư năm 2010, thay vì chia thành hai vòng thi như trước, cuộc thi ra quy chế: sau mỗi đêm thi, sẽ có một thí sinh rời cuộc chơi, cho đến khi chỉ còn bốn thí sinh cạnh tranh với nhau trong đêm cuối cùng.

Nếu trong suốt thập niên 1990, các cuộc thi hát trên truyền hình Việt Nam đều lấy giọng hát của thí sinh làm trung tâm, công việc của ban giám khảo chỉ là ngồi cho điểm, thì nay khán giả còn được sống trong thời kỳ vàng của những chương trình thử thách cả thí sinh lẫn… tài nhận xét của các vị giám khảo. Với Simon Cowell, American Idol đã nâng khâu đánh giá thí sinh lên một cấp độ hoàn toàn mới. Giám khảo trở nên cay nghiệt hơn, thậm chí gây tổn thương cho một số người. Nhưng tại Việt Nam, những khác biệt văn hoá khiến những người nổi tiếng khi ngồi ở vị trí giám khảo thường chọn cách nói dĩ hoà vi quý.

Vinh quang và hệ luỵ

Ngược dòng lịch sử, có thể nói rất nhiều nghệ sĩ thực thụ đã thành danh từ những cuộc thi tìm kiếm tài năng trên truyền hình. Chẳng hạn như Star Search, là bệ phóng của một loạt ngôi sao ấn tượng như Alanis Morissette, Aaliyah, Christina Aguilera, Beyonce Knowles, LeAnn Rimes, Jessica Simpson, Britney Spears và Justin Timberlake. Xét trên nhiều mặt, thi ca hát có thể là cơ hội tốt để phát triển tài năng. Không chỉ được quảng bá tên tuổi, các tài năng ca hát còn non nớt, thiếu kinh nghiệm sẽ trưởng thành hơn nhờ quá trình rèn luyện trong cuộc thi. Nếu thí sinh thực sự có tài, việc tham gia nhiều cuộc thi hát sẽ không gây nản lòng và tổn thương.

Nhưng ngược lại, cuộc thi hát với quy luật cạnh tranh của nó cũng gây đổ vỡ mộng tưởng nơi người trẻ. Phía sau hậu trường, các thí sinh được huấn luyện bởi một đội ngũ gồm các chuyên gia thanh nhạc, biên đạo múa, người huấn luyện kỹ năng trình diễn, nhà thiết kế thời trang và giám đốc âm nhạc. Đội ngũ này sẽ giúp các thí sinh học cách giữ làn hơi, nhả chữ, trình diễn trên sân khấu và cả trả lời phỏng vấn báo chí – những bài học mà có thể một ca sĩ phải mất nhiều năm, sau rất nhiều cố gắng và lỗi lầm mới đúc kết được, thay vì chỉ vài tuần tham gia thi hát. Chưa kể đây là cơ hội tốt cho các thí sinh tạo các mối quan hệ trong làng âm nhạc – một yếu tố cực kỳ quan trọng để bắt đầu sự nghiệp ca hát, ngang với tài năng và sự đam mê, giúp có được những hợp đồng ghi âm, trình diễn một cách dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, cũng có một khoảng cách nhất định trong cách nhìn nhận và khai thác con người của hệ thống truyền hình và guồng máy của nền công nghiệp biểu diễn (đại diện bởi các hãng đĩa, ông bầu). Nhân tố mới sẽ ít được các hãng đĩa, ông bầu chú ý nếu họ không trẻ trung, xinh đẹp, nhưng hệ thống truyền hình không coi đây là vấn đề. Do vậy, tuổi 22 của Uyên Linh hay tuổi 28 của Mỹ Như sẽ là một trở ngại khi các cô muốn vươn lên để trở thành một giá trị thương mại lớn trên thị trường âm nhạc. Mặt khác, do được bình chọn qua hệ thống tổng đài tin nhắn, người chiến thắng không bao giờ biết khán giả của mình thực sự là ai. Dù có thể khán giả sẽ nhớ đến cái tên và lưu tâm những hoạt động nghệ thuật của họ sau này, nhưng giữa việc được khán giả vinh danh và việc khán giả bỏ tiền mua đĩa, mua vé xem đêm nhạc là một khoảng cách… xa vời vợi.